QUÀ TẶNG ÂM NHẠC


NHIỆT ĐỘ, THỜI GIAN

Thành viên trực tuyến

0 khách và 0 thành viên

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    Banner_tet_2013_1.swf Etilen_tac_dung_voi_dung_dich_nuoc_brom.flv Bang_tuan_hoan_hoa_hoc_moi.swf Nam_hoc_moi.swf

    Tài nguyên dạy học

    CUỘC SỐNG TƯƠI ĐẸP

    Điều tra ý kiến

    Bạn thấy trang này như thế nào?
    Đẹp
    Đơn điệu
    Bình thường
    Ý kiến khác

    Sắp xếp dữ liệu

    LIÊN KẾT WEBSITE

    DANH NGÔN ANH - VIỆT

    CHÀO MỪNG NĂM HỌC MỚI 2012 - 2013!
    Gốc > Bài viết cần đọc > Giới thiệu lớp chúng mình >

    Giáo sư Ngô Bảo Châu giảng bài!

     
     

    Vào lúc 9 giờ sáng ngày 23/6/2011, tại Trụ sở của Viện Nghiên cứu cao cấp về Toán (Viện NCCCT, tên tiếng Anh: Vietnam Institute for Advanced Studies in Mathematics, VIASM) ở Tòa nhà Thư viện Tạ Quang Bửu, Trường ĐHBK Hà Nội, GS. TSKH.Ngô Bảo Châu - người vừa được tặng Giải thưởng Fields cao quý nhất về Toán học trên thế giới (gọi như nhà báo Hàm Châu là "Giải Nobel Toán học") vào ngày 19/8/2010, đã có bài giảng đầu tiên để bắt đầu một chuỗi các hoạt động khoa học khai trương Viện
    này.

    1. XÂY DỰNG VIỆN VÀ CHƯƠNG TRÌNH TOÁN HỌC

    Sau thành tựu Toán học xuất sắc và vang dội thế giới của GS. TSKH Ngô Bảo Châu, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, mà trực tiếp là Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Phó Thủ tướng, GS. TS. Nguyễn Thiện Nhân, Chính phủ đã ra quyết định thành lập Viện NCCCT và phê duyệt Chương trình trọng điểm quốc gia phát triển Toán học giai đoạn 2010-2020 (gọi tắt là Chương trình). Bộ trưởng Bộ GD&ĐT GS. TS. Phạm Vũ Luận, cũng đã kí Quyết định bổ nhiệm GS. TSKH. Ngô Bảo Châu làm Giám đốc Khoa học, GS. TSKH. Lê Tuấn Hoa làm Giám đốc Điều hành của Viện, GS. TSKH. Bùi Văn Ga làm Trưởng Ban Điều hành và GS. TSKH. Trần Văn Nhung làm Phó Trưởng Ban Điều hành Chương trình. Sau bài giảng đầu tiên, GS. Ngô Bảo Châu, GS. Lê Tuấn Hoa, GS. Ngô Việt Trung, GS. Trần Văn Nhung đã được Phó Thủ tướng GS. Nguyễn Thiện Nhân, Bộ trưởng GS. Phạm Vũ Luận và Thứ trưởng GS. Bùi Văn Ga tiếp thân mật, trao đổi về công việc và những khó khăn cụ thể để Chính phủ và các Bộ, Ngành hỗ trợ Viện sớm đưa các hoạt động khoa học vào nề nếp. Nghe tin Việt Nam đã thành lập Viện NCCCT, một số nước, một số nhà khoa học (có cả những nhà toán học đã từng nhận Giải thưởng Fields) đã chúc mừng và hứa sẽ sang thăm, giảng bài và hợp tác nghiên cứu toán học tại Viện khi điều kiện làm việc và cơ sở vật chất ở đây tạm hoàn thiện.

    Trước khi bắt đầu bài giảng của GS. Ngô Bảo Châu, GS. Lê Tuấn Hoa đã thông báo cho các thính giả biết việc bổ nhiệm hai đồng Giám đốc và chương trình khoa học kì này của Viện. Thay mặt Hội đồng Chức danh giáo sư nhà nước (HĐCDGSNN), Tổng Thư kí GS. Trần Văn Nhung, Ủy viên GS. Nguyễn Ngọc Thanh, GS. Nguyễn Phùng Hồng và Chánh Văn phòng PGS. Đỗ Tất Ngọc đã tặng hoa và chúc mừng Giám đốc Khoa học GS. Ngô Bảo Châu và Giám đốc Điều hành GS. Lê Tuấn Hoa. Xin nhắc lại rằng, TSKH. Ngô Bảo Châu đã được phong GS của ĐH Paris 11 năm 2004 khi anh 32 tuổi và được HĐCDGSNN phong đặc cách GS của Việt Nam năm 2005 khi anh 33 tuổi. Năm 2004 anh  được trao Giải thưởng Clay cùng với thầy mình là GS. G. Laumon vì chứng minh được Bổ đề cơ bản cho các nhóm Unita. Cho đến nay anh vẫn là người giữ kỉ lục GS trẻ nhất khi được phong và hiện vẫn đang là GS trẻ nhất Việt Nam (39 tuổi, vào năm 2011).

    GS. Ngô Bảo Châu sẽ làm việc ba tháng hè này tại Việt Nam. Trước khi đến làm việc và giảng bài tại Viện NCCCT trong Tòa nhà Thư viện Tạ Quang Bửu, anh đã dâng hương, hoa trước tượng của GS. Tạ Quang Bửu (1910 - 1986) để tưởng nhớ đến Cố Hiệu trưởng Trường ĐHBK Hà Nội và Cố Bộ trưởng Bộ ĐH&THCN - người đã có công lao to lớn xây dựng và phát triển nền giáo dục đại học, khoa học, nói riêng là Toán học và đào tạo nhân tài cho đất nước, cùng với những nhà toán học lão thành xuất sắc khác, như GS. Lê Văn Thiêm, GS. Hoàng Tụy, GS. Nguyễn Cảnh Toàn, GS. Phan Đình Diệu, GS. Nguyễn Thúc Hào,.… GS. Ngô Bảo Châu nguyên là học sinh Khối chuyên Toán A0 khóa XII của Trường ĐHTH Hà Nội, mà sự ra đời của hệ này do đề xuất của GS. Hoàng Tụy và được sự ủng hộ của các GS nói trên. Thật là có ý nghĩa khi nhớ lại: Năm 1974 (khi ấy anh mới 2 tuổi), GS. Tạ Quang Bửu đã mời một số nhà toán học giỏi người Pháp và người Việt Nam ở Pháp, như GS. B. Malgrange, GS. F. Phạm, GS. Lê Dũng Tráng và GS. A. Chenciner sang Việt Nam để tổ chức một chuỗi bài giảng về Lí thuyết các kì dị, cũng tại ĐHBK Hà Nội. Là một sinh viên ĐHTH Hà Nội mới ra trường, tôi cũng được đến nghe giảng. Khi đó lí thuyết này còn rất mới mẻ trên thế giới nhưng đã hứa hẹn nhiều ứng dụng quan trọng. Nhờ vậy mà đến nay Việt Nam đã hình thành được một nhóm nghiên cứu mạnh trong lĩnh vực này.

    Khác với năm 1974, lần này Việt Nam đã có hẳn một viện để tổ chức các bài giảng một cách bài bản, đó là Viện NCCCT, và giảng viên là GS. Ngô Bảo Châu và các GS, các nhà toán học xuất sắc trong và ngoài nước, 100% là người Việt Nam. Tất nhiên nay mai sẽ có thêm những bài giảng của các nhà khoa học hàng đầu thế giới và sự tham gia của các thính giả quốc tế nữa. Chỉ qua ví dụ so sánh đơn giản này, chúng ta đã có thể thấy một bước tiến đáng trân trọng của nền Toán học nước nhà. Càng tự hào bao nhiêu chúng ta càng nhớ đến công lao to lớn của các bậc thầy đi trước bấy nhiêu, những nhà toán học đã có tầm nhìn chiến lược tạo nên đội ngũ hôm nay những người Việt Nam giảng dạy, nghiên cứu và ứng dụng toán học ở trong và ngoài nước. Đồng thời chúng ta cũng phải luôn luôn ghi nhớ sự giúp đỡ và hợp tác của bạn bè, đồng nghiệp quốc tế, phải “fairplay”, và hậu thế phải tiếp bước các bậc tiền bối để phát triển Toán học Việt Nam lên một tầm cao mới.

    Theo tôi được biết thì từ năm 1967 đến nay đã có một số nhà toán học hàng đầu thế giới sau khi nhận Giải thưởng Fields như GS. A. Grothendieck (Pháp), GS. L. Schwartz (Pháp), GS. A. Hironaka (Nhật Bản), và một số nhà khoa học xuất sắc khác, sau khi nhận Giải Nobel, như GS. J. E. Stiglitz (Hoa Kỳ, về kinh tế), GS. R. J. Aumann (Israel-Hoa Kỳ-Đức, về kinh tế), …, đã từng sang thăm và giảng bài tại Việt Nam.  Năm 1967, khi đang học lớp 10 (trên 10) chuyên toán A0 khóa I của Trường ĐHTH Hà Nội, tôi đã thấy GS. Grothendieck, khi ông lên thăm và giảng bài về Đại số đồng điều, ở khu sơ tán huyện Đại Từ, tỉnh Bắc Thái. Lần đầu tiên trong đời nhìn thấy con trâu đen, ông đòi cưỡi. Mọi người đành phải chiều ông, nhưng sợ ông bị ngã. Nguyên khí quốc tế mà! Thế là, với cái đầu trọc, ông vừa đội mũ rơm vừa cưỡi trâu. Những nhà bác học hàng đầu thế giới nói trên đã từng ủng hộ mạnh mẽ cuộc đấu tranh chính nghĩa của dân tộc ta chống Mỹ và ủng hộ công cuộc xây dựng, đổi mới đất nước ta, gần ba mươi năm qua, bằng cả trái tim và khối óc của mình.

    2. GIẢNG TOÁN HẤP DẪN NHƯ KỂ CHUYỆN

    Trước đây tôi chưa bao giờ dám nghĩ đến sẽ có một ngày mà người được mời về giảng bài tại Việt Nam, sau khi nhận Giải thưởng Fields hoặc Nobel, lại chính là một người Việt Nam. Tôi đã cùng các thính giả khác nghe từ đầu đến cuối hơn hai giờ bài giảng đầu tiên tại Viện NCCCT của GS. Ngô Bảo Châu trong chuỗi bài giảng của anh về các dạng tự đẳng cấu và các dạng modular (automorphic and modular forms). Thật xúc động và tự hào khi lần đầu tiên chúng tôi được nghe một bài giảng trực tiếp bằng tiếng Việt giọng Hà Nội thứ thiệt, không cần ai phiên dịch, mà giảng viên lại là người vừa được trao Giải thưởng Fields cao quý nhất về Toán học trên thế giới. Hãy thử hình dung về một điều ước ở bên ngoài Toán học: Cũng sẽ vui mừng biết bao nếu một ngày nào đó chúng ta được xem ngay tại nước mình một bộ phim Việt Nam vừa được trao Giải Oscar mà từ kịch bản đến đạo diễn và diễn viên cơ bản là người
    Việt Nam!

    GS. Ngô Bảo Châu giảng bài trong một căn phòng khá rộng và lịch sự. Bốn mươi nhăm thính giả với mái tóc bạc có, hoa râm có, đen có, ngồi chật kín, lắng nghe rất chăm chú và ghi chép cẩn thận. Mọi người đều biết đây là một cơ hội quý, một cơ hội hiếm có, nên phải tận dụng, vì được nghe một bài giảng ở tầm cao, chiều sâu và tổng hợp như vậy sẽ rất bổ ích cho bất kì ai, dù người đó muốn có cái nhìn tổng quan hay muốn tìm vấn đề cụ thể để đi sâu nghiên cứu. GS. Ngô Bảo Châu nói: Sau khi kết thúc, loạt bài giảng của mình và các đồng nghiệp sẽ được tập hợp và biên tập lại thành tập bài giảng của Viện bằng tiếng Anh (Lecture Notes Series of VIASM).

    Chỉ trong một khoảng thời gian hơn hai tiếng đồng hồ, nhưng với tầm hiểu biết sâu rộng và với tài thuyết giảng của mình, GS. Ngô Bảo Châu đã "kể" cho người nghe một câu chuyện toán học dài xuyên qua gần hai mươi thế kỉ, từ thế kỉ  thứ III sau Công nguyên với các phương trình nghiệm nguyên cổ điển của Diophantine thành Alexandria, từ Bài toán lớn Phermat được phát biểu năm 1637, cho đến những thành tựu toán học kiệt xuất của nhân loại trong thế kỉ  XX, XXI, trong đó có những phần liên quan đến Chứng minh của anh cho Bổ đề cơ bản do R. Langlands phỏng đoán. Anh cũng đã "vẽ" ra một bức tranh toàn cảnh “nối những bến bờ xa lạ” trong Toán học và Vật lí  lại với nhau, như phương trình Diophantine, lí thuyết số, biểu diễn Galois, biểu diễn các nhóm Lie, dạng modular và dạng tự đẳng cấu, đường cong elliptic, hình học, tô pô, …. Nói là một bức tranh toàn cảnh vừa đúng theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, vì anh đã để lại một bức tranh "kí  họa" chiếm hết cả một cái bảng to, gồm nhiều lĩnh vực của Toán học và Vật lí được mô tả như những “hòn đảo cô lập”, chúng được nối lại với nhau bởi các “nhịp cầu” nhằng nhịt Mỗi "đảo", mỗi "cầu" đều có tên, có đảo hai, ba tên (vì các lĩnh vực Toán học giao thoa), có cầu hai, ba, bốn người cùng tham gia "bắc". Rồi còn chi tiết hơn nữa, nhịp cầu đó được bắc khi nào, trong bối cảnh nào. Và cuối cùng thì Bổ đề cơ bản nằm ở đâu trong bức tranh này? Nó liên quan đến nhiều đảo và cầu trong bức tranh, vì nó là cả một chương trình do R. Langlands đề xuất từ 30 năm trước.

    Trong bài giảng của mình, GS. Ngô Bảo Châu có nhắc đến tên và thành tựu khoa học của nhiều nhà toán học kiệt xuất đã từng giành được Giải thưởng Fields, trong đó
    A. Wiles (sinh năm 1953) người Anh và
    G. Faltings (sinh năm 1954) người Đức. Trong vòng 20-30 năm gần đây, khi theo dõi tiến độ giải quyết Bài toán lớn Phermat trên thế giới, tôi để ý nhiều hơn đến hai nhà toán học này và chính mình cũng đã có hai bài đăng trên Tạp chí Toán học và Tuổi trẻ về hai nhà toán học xuất sắc đó. A. Wiles có công lớn vì vào năm 1994 đã chứng minh được Định lí lớn Phermat sau 357 năm tồn tại. Khi đó anh đã 41 tuổi nên không được trao Giải thưởng Fields, mà chỉ được trao Kỉ niệm chương bằng bạc của Hội Toán học Thế giới năm 1998. Năm 1983, G. Faltings đã chứng minh được giả thuyết do một nhà toán học người Anh là L.J. Mordell (1888-1972) nêu ra năm 1922, sau hơn 60 năm tồn tại, và anh đã được trao Giải thưởng Fields năm 1986. Còn Ngô  Bảo Châu (sinh năm 1972) của chúng ta thì sao? Năm 2008 anh đã chứng minh xong Bổ đề cơ bản do nhà toán học Canada R. Langlands (sinh năm 1936) nêu ra trước đó 30 năm. So với hai người trước, GS. Ngô Bảo Châu "may mắn hơn" theo nghĩa: Khi anh giải quyết xong vấn đề được nêu ra thì người "ra đề" vẫn còn sống và anh còn được gặp, được cùng làm việc với R. Langlands một thời gian tại Viện Nghiên cứu cao cấp Princeton (IAS, Hoa Kỳ).

    Tôi để ý theo dõi cách GS. Ngô  Bảo Châu giảng bài. Anh nói hoàn toàn bằng tiếng Việt, vừa nói vừa dùng phấn viết nhanh lên bảng bằng tiếng Anh rất chuẩn mực. Tôi lại rất thích kiểu Ŗ trong 1" này, vì ở dưới các thính giả toán học trẻ Việt Nam còn được học thêm từ vựng toán học bằng tiếng Anh. Tất nhiên sau này khi có cả giảng viên và thính giả quốc tế đến Viện thì cả nói và viết sẽ đều bằng tiếng Anh. Trong suốt bài giảng hơn hai giờ, anh không hề dùng powerpoint, không hề nhìn một trang tài liệu, giáo án nào, tất cả đều từ đầu mà ra, vừa nói vừa viết một cách từ tốn, sinh động, hấp dẫn. Người giảng bài còn trẻ trung, không hề có dấu hiệu mệt mỏi. Mặc dù trong phòng lớn có micro, nhưng anh không dùng và nói đủ to để mọi người vẫn nghe rõ. Tất cả người nghe đều bị cuốn hút, cho đến khi kết thúc bài giảng không một ai ra về trước và cuối cùng là một tràng vỗ tay vang dội.

    Sáng 28/6, đúng vào ngày sinh của mình, GS. Ngô Bảo Châu đã tiếp tục giảng bài thứ hai tại Viện, với 50 thính giả tham dự, tức là nhiều hơn hôm đầu. Buổi chiều, GS. TSKH. Đỗ Ngọc Diệp giảng về biểu diễn các nhóm Lie. Sáng 30/6, GS. Ngô Bảo Châu giảng bài thứ ba cho 57 thính giả. Như vậy số người đến nghe GS. Ngô Bảo Châu giảng bài tăng dần, chứ không giảm dần. Điều này thường hiếm thấy đối với các bài giảng toán học. Những ngày gần đây, một nhà toán học trẻ xuất sắc người Việt Nam ở nước ngoài, GS. TS. Vũ Hà Văn (ĐH Yale, Mỹ), đã bắt đầu các bài giảng thú vị về “ Phương pháp xác suất trong toán học hiện đại”. Song song với chuỗi bài giảng ở Viện NCCCT, từ 11 đến 30/7/2011, còn có chuỗi bài giảng ở Trường hè “Toán học cho sinh viên” do Viện Toán học, Viện KH-CN Việt Nam, tổ chức, thu hút 100-200 sinh viên từ mọi miền đất nước. GS. Hoàng Tụy, GS. Ngô Bảo Châu, GS. Vũ Hà Văn và nhiều GS nổi tiếng khác đã đến dự khai mạc Trường hè này.

    Tới nghe các bài giảng của GS. Ngô Bảo Châu và sau này còn có thể phối hợp với anh

     

    giảng bài cho trường hè ba tháng này là các giáo sư toán học hàng đầu trong nước gần chuyên ngành và các nhà toán học trẻ của Việt Nam từ trong nước và từ Pháp, Mỹ, …, về, như GS. Đoàn Quỳnh, GS. TSKH. Hà Huy Khoái, GS. TSKH. Ngô Việt Trung, GS. TSKH. Lê Tuấn Hoa, GS. TSKH. Nguyễn Hữu Việt Hưng, GS. TSKH. Nguyễn Tự Cường, GS. TSKH. Đỗ Ngọc Diệp, GS. TSKH. Đỗ Đức Thái, GS. TS. Nguyễn Quốc Thắng, PGS. TS. Bùi Thế Tâm, PGS. TSKH. Phùng Hồ Hải, PGS. TS. Lê Hải Khôi, TS. Nguyễn Chu Gia Vượng, TS. Lê Hùng Việt Bảo (ĐH Harvard, Mỹ), TS. Ngô Đắc Tuấn (ĐH Paris 13), TS. Bùi Hùng, TS. Lê Minh Hà, TS. Phan Dương Hiệu (ĐH Paris 8-13), TS. Ngô Quang Hưng (ĐH Suny Buffalo, Mỹ),…. Trong số các thính giả đến nghe bài giảng có nhiều nhà toán học giỏi và nhà toán học trẻ. Họ cũng đã từng được mời đi giảng bài và hợp tác nghiên cứu khoa học ở nhiều nước trên thế giới.

    *  *  *

    Trước khi kết thúc bài viết, Tác giả xin chúc cho Viện NCCCT của GS. Ngô Bảo Châu, GS. Lê Tuấn Hoa và Chương trình trọng điểm quốc gia phát triển Toán học giai đoạn 2010-2020 thành công tốt đẹp, góp phần phát triển Toán học Việt Nam, và xin chúc GS. Ngô Bảo Châu bước sang tuổi 40 khỏe mạnh, tiếp tục thành đạt và cống hiến nhiều hơn nữa cho Tổ quốc Việt Nam và Thế giới!

     

                                                                     TRẦN VĂN NHUNG


    Nhắn tin cho tác giả
    Thcs Kiến Giang @ 08:50 20/03/2012
    Số lượt xem: 770
    Số lượt thích: 0 người
    No_avatar

    Em Trung! VÀO đây tham khảo cũng đươc nhé! MÁY cô mơí cài lại nên chưa vào gmail hay yahoo đươc, em thông cảm nhé!


    Ta có sơ đồ phản ứng :

                       2KMnO4 K2MnO4 + MnO2 + O2

                       Số mol O2 =  mol

    Áp dụng định luật bào toàn khối lượng ta có :

                       * m(P+Q) = m(CO2) + m(H2O) – m(O2)

                       =0,12.44 + 0,135.18 – 0,27.32 = 3,39 gam

                       * m(H2O) phản ứng = 3,39 – 2,85 = 0,54 gam

                       Þ n(H2O) phản ứng = 0,03 mol

                       * n(H) của (Z) = 0,135.2 – 0,03.2 = 0,21 mol

                       * n(C) của (Z) = nC(của CO2) = 0,12 mol

                       * m(O) của (Z) = 2,85 – 0,12.12 – 0,21 = 1,2 gam

                       Þ n(O) của (Z) = 0,075 mol

    CTPT : CxHyOz

    Ta có tỉ lệ :x : y : z  = 0,12 : 0,21 : 0,075 = 8 : 14 : 5

    Vậy công thức phân tử của (Z) là C8H14O5 

    No_avatar

    Có vài chô bị lôĩ, cô găng suy luân!

     

    No_avatar

    Gửi đây cũng được em nhé!

    Số mol H2O = 3,24/18  = 0,18 (mol)

    Số mol hỗn hợp Y = 65,744/22,4  =  2,935 (mol)

    Số mol hỗn hợp khí Z = 62,16/22,4  =  2,776 (mol)

    Phương trình hóa học : 

          C6H6   +    7,5O2     6CO2   +   3H2O                                          (1)

         CnH2n+1OH  +  3n/2O2    nCO2   +   (n+1)H2O                            (2)

         CO2  +  2NaOH   Na2CO3  +  H2O                                              (3)

    Gọi số mol      C6H6 ,  CnH2n+1OH  lần lượt là x, và y. Ta có :

           78x + (14n + 18)y  =  3,08                                                       (I)

     

    Theo (1) và (2), ta có :

    Số mol H2O  =  3x  +  (n+1)y  =  0,18                                             (II)

    Số mol CO2  =  6x  +  ny

    Số mol O2 phản ứng  =  7,5x + 1,5ny

     * Hỗn hợp khí Y gồm : CO2 ; O2 (dư) ; N2 không phản ứng.

        Hỗn hợp Z gồm : O2 (dư) ; N2 không phản ứng.

    Số mol CO2  =  2,935 -  2,775  =  0,16  =  6x + ny                          (III)

    Giải hệ, tìm được n = 2

    Vậy công thức của hợp chất hữu cơ X là : C2H5OH

     x = 0,01 ;  y = 0,05

     
    Gửi ý kiến

    CẢM ƠN CÁC QUÝ VỊ, THẦY CÔ GIÁO VÀ CÁC EM HỌC SINH ĐÃ TRUY CẬP VÀO WEBSITE. SỰ ĐÓNG GÓP CỦA QUÝ VỊ SẼ LÀM NÊN THÀNH CÔNG CHO TRANG WEB NÀY. XIN TRÂN TRỌNG CẢM ƠN!

    TRUYỆN CƯỜI THƯ GIÃN

    BẤM VÀO ĐÂY ĐỂ TRỞ VỀ ĐẦU TRANG

    ---